Chúa Nhật V Mùa Chay - Năm B
ĐAU KHỔ VÀ VINH QUANG
 

“Nếu hạt lúa mì gieo xuống đất mà không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi thì nó sẽ sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24)

Thưa các bạn thân mến,

Với Chúa Nhật V Mùa Chay này, quỹ thời gian Mùa hồng phúc đã gần hết.

Nếu như để ý đến ba việc cần thiết của Mùa Chay: cầu nguyện là là canh tân mối tương quan với Thiên Chúa, bác ái là học nơi Chúa mở lòng ra với tha nhân, thì chay tịnh khổ chế là quan tâm đến phẩm giá cao quý của linh hồn mình, mà trong đó thập giá luôn là phương thế Chúa dùng để thanh tẩy và đem lại sự sống viên mãn cho linh hồn.

Hãy quay về với cõi lòng mình. Có lần Chúa Giêsu đã nói lên sự khác biệt giữa toàn thể vũ trụ và một linh hồn: “Được lời lãi cả thế gian, mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì! Người ta lấy gì mà đổi lại?” (Mt 16,26). Để so sánh linh hồn với cả thế giới này xem cái nào hơn, hãy thử tưởng tượng đặt trên hai đĩa cân một bên là linh hồn còn một bên là cả thế giới thụ tạo vật chất này. Chắc chắn, theo như lời Chúa Giêsu, phần nặng sẽ nghiêng về bên linh hồn. Đây không phải là nặng về khối lượng, nhưng là nặng về giá trị, về phẩm chất. Ta vốn biết “nhân linh ư vạn vật”, linh hồn con người hơn hẳn vạn vật, vì vạn vật chỉ phản ảnh mờ nhạt vinh quang Thiên Chúa, trong khi con người được thông phần bản tính Ngài.

Vì sao linh hồn con người có giá trị như thế?

Linh hồn được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng nên giống hình ảnh Ngài (St 1,26). Đó là vì linh hồn có tính thiêng liêng và bất tử, lại có trí khôn, ý chí và tự do: “Chúa tạo dựng nên con người giống hình ảnh Ngài bằng cách ban cho con người sự tự do cùng với khả năng hiểu biết và yêu mến Ngài” (GLHTCG số 2002). Trong các khả năng đặc biệt ấy, dễ thấy khả năng yêu mến làm chúng ta giống Thiên Chúa, vì Ngài là Tình Yêu (1Ga 4,16). Như vậy, linh hồn là bản thể cao trọng nhất vì được thông phần bản tính Thiên Chúa và đời sau được phúc hưởng kiến Thiên Chúa đời đời.

Thánh Louis Grignon de Montfort có nhận xét rằng linh hồn cao quí vô cùng như thế nhưng lại ở trong một thân xác hay hư nát, khiếm khuyết bất toàn, thậm chí đầy những xấu xa về thể lý cũng như về luân lý, khác nào viên ngọc rất quí giá nằm trong một đống rác nhơ bẩn, hay được đựng trong một chiếc bình mỏng dễ vỡ. Vì thế, linh hồn dễ bị thể xác đồng hoá làm cho mất vẻ cao đẹp ban đầu và có nguy cơ bị trầm luân đời đời. Cũng như bình đựng rượu hôi hám nhơ bẩn thì rượu dù có trong sạch đến đâu cũng sẽ vẩn đục và mất mùi thơm tho ngon lành (Thành Thực sùng Kính Mẹ Maria).

 “Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch” (Tv 50,12). Muốn cứu lấy linh hồn và thể xác, tức cứu lấy mạng sống mình, thì phải tẩy uế, phải từ bỏ mình, phải vác thập giá hàng ngày theo Chúa. Không vậy, chúng ta sẽ không thể nào đạt đến cùng đích đời đời: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất,và ai ghét sự sống mình ở đời này vì Ta, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời” (Mt 16,25).

Con đường mà chính Chúa Kitô Thầy Chí Thánh của chúng ta đã đi trọn hảo và đã đạt tới vinh quanh bất tận, đó là đau khổ, thánh giá. “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người” (Dt 5,9). Ngài vẫy gọi chúng ta đi vào con đường đó: “Ai muốn theo Ta.....”. Vả lại, thập giá là một thực tại vẫn xảy đến thường xuyên trong đời sống chúng ta, nào ai tránh được, vì “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Chúa để xảy ra như vậy nhằm thanh tẩy và thánh hóa linh hồn nên giống hình ảnh Chúa, chứ Ngài nào muốn để nó đè bẹp ta.

Dễ thấy trong đời sống luôn có thập giá. Có câu chuyện vui kể rằng một anh nọ đi xưng tội về thường có một cử chỉ khác thường là hay ôm hôn bà xã. Người vợ lấy làm sung sướng và tràn trề hạnh phúc vì người chồng đã thay đổi so với trước đây, nhưng cũng hơi thắc mắc không biết ơn nào mạnh như vậy. Dò hỏi, thì anh ta cuối cùng cũng thú thật: “Cha giải tội ra việc đền tội về nhà phải hôn thánh giá” !?! Có khi cha giải tội cũng ra việc đền tội như vậy cho các bà.

Rất thường khi vô tình hay hữu ý, người ta có thể gây những đau khổ sâu nặng cho người khác, cả đến vợ hay chồng mình: hờ hững, lạnh lùng, thiếu quan tâm, thiếu sự dịu dàng, tế nhị, ích kỷ... hoặc đi quá trớn: phản bội, ngoại tình, hay thậm chí hành xử bạo lực bằng tay chân, miệng mồm.

Thi sĩ thời xưa Tú Xương có bài thơ Khen Vợ, khen vợ nhưng cũng là trách mình.

Quanh năm buôn bán ở ven sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nước lúc đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa chẳng quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

Có chồng hờ hững cũng như không!

 

Vẫn là một câu hỏi vẫn thường xuất hiện: Chúa là Tình Yêu mà sao lại để con người phải chịu đau khổ?

Đọc các bài giảng của Cố Linh mục Gioan Maria Đoàn Phú Xuân, Nguyên Tổng Phục Vụ Dòng Đồng Công, trong cuốn Men Trong Bột, xin ghi ra những tư tưởng sau:

Chúa là Cha rất nhân từ đầy lòng yêu thương con cái, nhưng Chúa vẫn để ta phải đau khổ, vì:

- Để thử lòng trung thành của ta: lúc bình an, hạnh phúc, may lành mà yêu Chúa và phụng sự Ngài thì có gì lạ ; khi đau khổ mà vẫn tin - yêu - cảm tạ thì mới thật là vàng ròng trung thành. “Mọi chuyện xảy đến với con, con hãy chấp nhận, và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn. Vì vàng phải được tô luyện trong lửa, còn người sáng giá thì phải được thử trong lò ô nhục” (Hc 3,3-5).

- Nhờ nó ta tập thêm nhiều nhân đức:  mỗi khối đá, mỗi khúc gỗ phải chịu đục đẽo để nên một tác phẩm đẹp. Đau khổ tạo hình. Có đau khổ mới biết thông cảm, nhẫn nại, gan dạ, bác ái, khiêm tốn, bé nhỏ…

- Nó giúp ta lập công: Qua đau khổ mới có vinh quang: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ sống lại với Người. Nếu ta chịu đau khổ với Người, ta sẽ thống trị với Người”. “Đau khổ ở đời này đâu sánh được với vinh quang mà Chúa sẽ tỏ cho chúng ta đời sau !” (Rm 8,18).

- Nó kéo ta lại gần Chúa:  lúc bình thường ta ít nhớ đến Chúa đến Mẹ, nhưng khi đau khổ, ta cầu nguyện nhiều hơn: “Từ vực sâu tôi nài van Chúa...”. Nghĩa trang Dòng Đồng Công thường có nhiều người đau khổ đến cầu nguyện khấn xin cùng Cha Phanxicô Nghèo Mẹ Đau Thương Minh Đăng.

- Nó thức tỉnh lương tâm, đưa ta về với Chúa, như người con hoang đàng, người trộm lành trong Tin Mừng. Gương các Thánh trở lại như Phaolô, Phanxicô Borga, Phanxicô Sale, Anphongsô,...

- Giúp đền bù tội lỗi và các hình phạt đáng chịu, nhờ đó khi chết ta mau được về thiên đàng, không phải giam lâu trong luyện tội, như người trộm lành trên thập giá.

- Giúp ta cứu được nhiều linh hồn vì ta được nên giống Chúa khi tham dự vào cuộc khổ nạn của Chúa và cùng Chúa cứu rỗi vì linh hồn.

- Nó là biểu chứng Chúa yêu ta: vì yêu ta nên Chúa cho ta chia sẻ chén đắng với Chúa “Các con có uống nổi chén đắng với Thầy không?” .

Như thế, rất nên chuẩn bị tâm hồn để đón nhận đau khổ.

Mỗi sáng khi thức dậy, hãy dâng mọi sự sẽ xảy đến trong ngày cho Đức Maria, xin Mẹ giúp chúng ta đón nhận và lợi dụng chúng để bước theo chân Chúa Kitô.

Khi đau khổ xảy đến, biết bình tĩnh đón nhận, coi đó là ý Chúa cho phép. Cần một phút thinh lặng nhận ra ý Chúa và vận dụng nghị lực để hành xử cho nên. Linh hồn bé nhỏ nhìn mọi thụ tạo như những dụng cụ Thiên Chúa dùng để tác thánh mình. Trong lúc gian khổ, linh hồn vượt qua những dụng cụ để gặp gỡ Thiên Chúa. Linh hồn mang ơn Đức Mẹ và mọi người mọi vật đã góp công với Thiên Chúa để tác thành mình. “Mọi sự đều chung sức sinh ích lợi cho những ai có lòng mến Chúa” (Rm 8,28).

Do đó, cứ tiếp tục việc bổn phận, không phàn nàn kêu ca thở than, hay trách móc đổ lỗi, hay thù hằn người khác kẻ gây đau khổ cho mình. Cần yêu thương và tiếp tục cầu nguyện cho kẻ gây đau khổ cho mình. Về phía tích cực, cần chia sẻ gánh nặng của nhau, cảm thông nâng đỡ và dùng tình yêu trao ban để chữa trị mọi vết thương, lau khô mọi giọt lệ.

Thưa các bạn quý mến,

“Nếu hạt lúa mì gieo xuống đất mà không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi thì nó sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24). Hạt Lúa Giêsu không sống cho mình nhưng sống cho Thiên Chúa Cha và cho người khác, đến mức hiến mình trên thánh giá. Mỗi hạt lúa chúng ta cũng được mời gọi sống như vậy, để Mùa Chay và cuộc đời này trở nên hồng phúc.